Trong xã hội hiện đại, tình trạng thừa cân béo phì không chỉ phổ biến ở người lớn mà còn ở trẻ em, không chỉ ở các nước phát triển mà thậm chí các nước đang phát triển, tỉ lệ này cũng tăng cao. Béo phì ở trẻ em đang trở thành vấn đề đáng lo ngại bên cạnh tình trạng suy dinh dưỡng.
Name:  phì.jpg
Views: 0
Size:  19.8 KB
Béo phì ở trẻ em là sự tăng quá mức của lượng mỡ dự trữ dẫn đến cân nặng tăng cao bất thường, quá mức so với chiều cao của trẻ em. Nguyên nhân có thể là do môi tường hoặc bệnh lý.
1. Nguyên nhân béo phì
Do yếu tố bên ngoài
Thói quen ăn uống
+ Nước uống có đường, bánh kẹo
+ Thức ăn, nước uống có chứa nhiều chất béo và năng lượng cao: đồ chiên rán, nhiều dầu mỡ, thức ăn nhanh.
+ Cha mẹ cho trẻ ăn thêm những lúc trẻ không đói.
Lười hoạt động thể lực
+ Lười vận động, lười tập thể dục thể thao
+ Thích ngồi 1 chỗ để xem tivi, chơi game...
Do bệnh lý
Do di truyền:
+ 80% trẻ béo phì nặng có một hoặc cả hai bố mẹ cùng béo phì.
+ Bệnh lý di truyền: Prader-Wili (NST 15q11-q12), Alstrom (NST 2p14-p13 gen lặn), Laurence-Moon/Bardet-Biedl (NST 16q21, 15q22-q23 gen lặn), Cohen (NST 8q22-q23 gen lặn), Beckwith-Weidemann (NST 15p15.5 gen lặn)...
Bệnh lý nội tiết:
+ Béo phì do suy giáp trạng: béo toàn thân, lùn, da khô và thiểu năng trí tuệ.
+ Béo do cường năng tuyến thượng thận (U nam hoá vỏ tượng thận): béo bụng, da đỏ có vết rạn, nhiều trứng cá, huyết áp cao.
+ Béo phì do thiểu năng sinh dục: Thường gặp trong 1 số hội chứng: Prader-Willi béo bụng, lùn, thiểu năng trí tuệ và hay gặp tinh hoàn ẩn.
+ Béo phì do các bệnh về não: Thường gặp do các tổn thương vùng dưới đồi, sau di chứng viêm não. Béo thường có kèm theo thiểu năng trí tuệ hoặc có triệu chứng thần kinh khu trú.
+ Béo phì do dùng thuốc: Uống Corticoid kéo dài trong điều trị bệnh hen, bệnh khớp, hội chứng thận hư hoặc vô tình uống thuốc đông y có trộn lẫn corticoid để điều trị chàm, dị ứng và hen. Đặc điểm béo của hội chứng Cushing, béo bụng là chủ yếu và không tìm thấy nguyên nhân trừ khai thác bệnh sử có sử dụng thuốc corticoid.
2. Chẩn đoán béo phì
Trẻ dưới 5 tuổi: Sử dụng bảng phân loại theo chiều cao và cân nặng của trẻ em của WHO: béo phì khi cân nặng so với chiều cao > + 2SD
Trẻ từ 6-10 tuổi: Cân nặng lý tưởng so với chiều cao (IBWH)
Cân nặng đo được
IBWH = ---------------------------------------------- x 100
Cân nặng trung bình so với chiều cao
Béo phì khi IBWH ≥ 120%
Trẻ > 10 tuổi: Chỉ số khối cơ thể (BMI)
Cân nặng (kg)
BMI = ---------------------
(Chiều cao)2 (m)
Nếu BMI > 25-30 là thừa cân, >30 là béo phì