Thiếu ối là thể tích nước ối giảm hơn so với tuổi thai, có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi thai nào. Biểu hiện lâm sàng không rầm rộ như đa ối. Gọi là thiểu ối khi chỉ số ối dưới 50mm, hoặc chỉ số ối giảm 20% mỗi tuần khi tuổi thai trên 41 tuần.

Cũng như đa ối, thiếu ối chia làm 2 loại : thiếu ối cấp và thiếu ối mãn.

Thiếu ối cấp thường do vỡ gối gây ra. Trong khi đó,thiếu ối mãn thường do bệnh lý của thai gây ra và khó điều trị, tỷ lệ tử vong cao.

Vai trò quan trọng của nước ối

Bình thường thể tích nước ối khoảng 30ml ở thai 10 tuần, 1.000ml ở thai 34 - 36 tuần, sau đó có khuynh hướng giảm dần còn 600 - 800ml vào tuần thứ 40 hoặc khi chuyển dạ sinh. Ngay từ đầu thai kỳ, nước ối đã có chức năng nuôi dưỡng phôi thai, cân bằng dịch nội và ngoại bào. Nước ối còn có chức năng bảo vệ, che chở cho thai tránh những va chạm, sang chấn, đặc biệt là bảo đảm môi trường vô trùng cho bé trong bọc ối. Trong lúc chuyển dạ, nước ối tiếp tục bảo vệ thai nhi khỏi những sang chấn của cơn co tử cung và nhiễm khuẩn. Sau khi vỡ ối, tính nhờn của nước ối bôi trơn đường sinh dục của mẹ giúp thai nhi được sinh ra dễ hơn.

Name:  images.jpg
Views: 0
Size:  9.1 KB
Nguyên nhân

- Ối vỡ non,ối vỡ sớm
- Thai dị dạng
+Bệnh lý hệ tiết niệu của thai: không có thận, teo niệu quản bẩm sinh,thận không phát triển, tắc niệu quản. dị dạng hệ thần kinh trung ương: thai vô sọ, thoát vị não.Bệnh lý về nhiễm sắc thể: ba nhiễm sắc thể 18, hội chứng Turner. Thoát vị cơ hoành…
- Thai thiếu oxy máu mãn: thai chậm phát triển trong tử cung trong trường hợp mẹ cao huyết áp,thiếu máu,thai quá ngày sinh, dây rốn của thai bị chèn ép, bệnh lý dây rốn làm cản trở tuần hoàn thai nhi.
- Truyền máu thai nhi sinh đôi chung tuần hoàn

Triệu chứng lâm sàng

Nghi ngờ thiếu ối khi nắn đáy tử cung thấy rất rõ các phần thai mà không cảm thấy có nước ối, khó làm động tác di động đầu thai. Lúc vỡ ối không thấy nước ối. Hồi cứu lâm sàng sau khi để hoặc mổ đẻ mở tử cung lấy thai không thấy nước ối trong buồng tử cung mới xác định được xác định được chuẩn đoán là thiếu ối.
Chuẩn đoán dựa vào siêu âm.

Để đánh giá thể tích nước ối ở tuổi thai 36 đến 42 tuần bằng cách đo 4 vùng của tử cung, với đầu dò đặt vuông góc với mặt phẳng nằm ngang, đo đường kính dọc lớn nhất ở mỗi phần tư và cộng lại. Con số này gọi là chỉ số AFI. Khi thai đủ tháng, chỉ số ối trung bình là 124+_46mm. Thiếu ối khi chỉ số dưới 50mm. Khi thai trên 41 tuần mà mỗi tuần chỉ số ối giảm 25% được coi là thiếu ối.

Điều trị

Việc điều trị thiểu ối tùy thuộc vào từng giai đoạn của thai kỳ. Trong các trường hợp thiểu ối và có các dị dạng cấu trúc thai nhi, cần phải làm thêm các xét nghiệm để xác định các bất thường đó có khả năng điều trị hay không, cũng như có bất thường về nhiễm sắc thể hay không để có quyết định điều trị giữ thai hay đình chỉ thai nghén. Trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung mà không tìm được nguyên nhân thì xử trí tuỳ thuộc vào sự diễn tiến của tình trạng suy thai trong tử cung. Cần theo dõi sát các yếu tố chuyển dạ để có tiên lượng và xử trí kịp thời.

Phụ nữ khi mang thai cần khám thai đầy đủ và đúng lịch hẹn của bác sĩ chuyên khoa để phát hiện sớm và điều trị kịp thời những bất thường có thể xảy ra trong thai kỳ.